Phương thức sản xuất đề cập đến cách thức con người sản xuất ra những nhu yếu phẩm của cuộc sống để phục vụ cho sự tồn tại và phát triển con người từ giai đoạn sơ khai cho đến hiện đại. Mỗi giai đoạn sẽ có những phương thức sản xuất khác nhau, đặc trưng là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Vậy phương thức sản xuất là gì? Cấu trúc như thế nào? Có những phương thức nào phổ biến và nó tác động tới đời sống ra sao? Hãy cùng PMS giải đáp trong bài viết này nhé!

Phương thức sản xuất là gì?
Phương thức sản xuất là cách con người tổ chức và thực hiện quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Mỗi giai đoạn sẽ có một phương thức khác nhau, nghĩa là sự phân bổ lao động khác nhau, tạo ra sự phân bổ của cải khác nhau.
Phương thức sản xuất là sự kết hợp giữa các lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất, chúng tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng. Đó là quá trình con người sử dụng các công cụ lao động, tài nguyên thiên nhiên để tác động vào tự nhiên tạo ra của cải vật chất nhằm phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người từ cổ đại đến hiện đại.
Ví dụ, phương thức sản xuất ở xã hội nguyên thủy là những vũ khí thô sơ, kỹ thuật đánh bắt tự nhiên, trình độ không có. Còn ở xã hội hiện đại thì phương thức sản xuất sẽ yêu cầu cao hơn như trình độ, bằng cấp, kinh nghiệm và công nghệ hiện đại.
Nói cách khác, phương thức sản xuất là cách thức sản xuất hàng hóa trong xã hội bạn đang sống hiện nay. Chẳng hạn, người ta thu hoạch nguyên liệu thô như thế nào? Ai là người thực hiện việc đó? Họ có những công cụ nào và sử dụng bằng cách nào? Những nguyên liệu thô đó được vận chuyển đến nơi sản xuất hàng hóa bằng cách nào? Ai là người vận chuyển? Ai sản xuất chúng và họ sử dụng những máy móc gì để sản xuất? Ai đã chế tạo những máy móc đó?
Quan trọng hơn là bạn phải xác định mối quan hệ giữa người thực hiện trực tiếp công việc và những người sở hữu công cụ, phương tiện và máy móc được sử dụng trong quá trình này như thế nào. Khi đó, bạn sẽ định nghĩa được phương thức sản xuất.
Cấu trúc của phương thức sản xuất
Như đã nói ở trên, phương thức sản xuất là sự kết hợp giữa lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất, hai thành phần này tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau.
Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp của hai yếu tố là: Người lao động và tư liệu sản xuất.
- Người lao động: Lực lượng lao động có tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và sức khỏe trong quá trình sản xuất.
- Tư liệu sản xuất: Gồm đối tượng lao động (đất đai, nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên) và tư liệu lao động (công cụ lao động, phương tiện lao động, máy móc, khoa học – kĩ thuật).

Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là mối quan hệ kinh tế giữa người với người trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra của cải vật chất để phục vụ đời sống. Trong đó, quá trình sản xuất sẽ là một quá trình gồm các hoạt động từ sản xuất, phối, trao đổi và sử dụng của cải vật chất. Quan hệ sản xuất sẽ bao gồm:
- Tính sở hữu với tư liệu sản xuất.
- Tính liên hệ trong phân phối sản phẩm.
- Tính liên kết trong tổ chức, quản lý sản xuất và trao đổi hoạt động với nhau.

Lịch sử phát triển của phương thức sản xuất qua từng thời kỳ lịch sử
Lịch sử phát triển của phương thức sản xuất gồm 7 giai đoạn sau:

Phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy
Là phương thức xuất hiện đầu tiên ở giai đoạn sơ khai của xã hội loài người. Lực lượng sản xuất thời điểm này dựa trên sức lao động của con người dựa trên tính tập thể là chính chứ chưa phân công cụ thể. Còn về trình độ thì yếu kém và chưa sản xuất ra được sản phẩm.
Lực lượng sản xuất của phương thức sản xuất thời kỳ này là lao động qua các hoạt động săn bắt, hái lượm, sử dụng công cụ thời kỳ đồ đá và nông nghiệp đời đầu.
Phương thức sản xuất châu A
Phương thức sản xuất châu Á hình thức đầu tiên có giai cấp trong xã hội nhưng không được phân chia rõ rệt. Thường một nhóm nhỏ họ tạo ra các sản phẩm thặng dư xã hội bằng cách bốc lột sức lao động với một nhóm cộng động định cư hoặc không định cư trong vùng đó.
Lực lượng sản xuất của phương thức thời kỳ này đã biết sử dụng các kỹ thuật canh tác nông nghiệp, xây dựng công trình có quy mô và tạo ra những kho bãi để chứa các sản phẩm có lợi cho xã hội.
Phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ
Đây là thời kỳ đầu tiên bóc lột sức lao động của những người nô lệ thuộc quyền sở hữu của giai cấp chủ nô để sản xuất tạo ra của cải vật chất cho họ. Thời kỳ này nô lệ không có bất cứ quyền lợi hay quyền tự do nào.
Lực lượng sản xuất của phương thức này bao gồm yếu tố nông nghiệp và chăn nuôi, trồng trọt, sử dụng gia súc làm sức kéo, có bước phát triển hơn nhờ việc sử dụng công cụ bằng kim loại thay thế cho thời kỳ nguyên thủy.
Phương thức sản xuất phong kiến
Là phương thức sản xuất chủ yếu ở châu Âu thời Trung Cổ. Trong đó, địa chủ sẽ nắm quyền sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động của nông dân.
Phương thức này cũng bị ràng buộc và cổ hủ bởi một số điểm như:
- Đất đai là tư liệu sản xuất chính, thuộc sở hữu của giai cấp phong kiến
- Nông nô bị ràng buộc với ruộng đất, phải nộp địa tô chủ đất hoặc chỉ sử dụng một mảnh đất nhỏ.
- Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, công cụ sản xuất thì thô sơ, chủ yếu dựa vào sức kéo gia súc nên năng suất lao động thấp.
- Kinh tế tự cung tự cấp trong lãnh thổ của mình, ít trao đổi buôn bán ra bên ngoài.
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Phương thức sản xuất tư bản ra đời để chuyển đổi cho chế độ phong kiến. Trong đó, giai cấp tư sản sẽ sở hữu tư liệu sản xuất (nguyên vật liệu, máy móc, nhà xưởng, công cụ lao động) và thuê người lao động, còn giai cấp vô sản sẽ không có tư liệu sản xuất và họ phải bán sức lao động để mưu sinh kiếm sống.
Phương thức sản xuất tư bản dần phát triển với nhiều lối ưu duy:
- Tư liệu sản xuất là tư bản, thuộc sở hữu tư nhân.
- Người lao động được sử dụng và trả công theo đúng giá trị.
- Quá trình sản xuất được xã hội hóa trên quy mô lớn, khoa học – kỹ thuật được phát triển mạnh, nâng cao năng suất lao động.
Nhờ vào sự tiến bộ rõ rệt, phương thức sản xuất này dần trở nên mạnh mẽ ở hầu hết các nước tư bản hiện nay.
Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa
Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong Cách mạng Tháng Mười Nga vào những năm 1917, hình thức sản xuất này có đặc điểm là tài liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà nước hoặc tập thể. Không có sự phân biệt giai cấp và mục đích chính của sản xuất là để phục vụ nhu cầu xã hội, không phải vì lợi nhuận.
Quan hệ xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu đa dạng chiếm địa vị trong xã hội, loại bỏ dần những trở ngại và phát triển mạnh cho lực lượng sản xuất (Người lao động và tư liệu sản xuất). Nghĩa là người lao động được tham gia và quản lý quá trình sản xuất, làm việc và hưởng thành quả theo sức lao động, bên cạnh đó cũng có phúc lợi dành cho người yếu thế.
Phương thức sản xuất cộng sản
Giai đoạn này, trình độ người lao động đã cao hơn so với ở xã hội chủ nghĩa, lực lượng sản xuất cũng đã phát triển hơn. Chế độ bóc lột sức lao động cũng bị triệt bỏ, tư liệu sản xuất thuộc về toàn bộ cộng đồng, không có sự sở hữu riêng của cá nhân hay tổ chức nào. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân đóng góp vào sản xuất theo khả năng của mình và được hưởng thụ các sản phẩm theo nhu cầu thực tế, mọi hoạt động sản xuất được quản lý và điều phối bởi cộng đồng.
Qua chiều dài lịch sử, các phương thức sản xuất chủ yếu đã trải qua sự thay đổi và phát triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn để phục vụ tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có phương thức sản xuất nào đạt đến trình độ lý tưởng.
Các phương thức sản xuất phổ biến hiện nay

Sản xuất để lưu kho (MTS)
Sản xuất lưu kho (MTS – Make to stock) là phương thức sản xuất sản phẩm dựa trên dự báo nhu cầu người tiêu dùng ngay lập tức khi có đơn đặt hàng.
- Ưu điểm: Giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm thời gian, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và sử dụng nguồn lực tối ưu khi quá trình sản xuất đã được lên kế hoạch tỉ mỉ. Đặc biệt là khả năng đáp ứng hàng hóa luôn sẵn sàng bán cho khách hàng.
- Nhược điểm: Dự báo nhu cầu đôi khi không chính xác vì xu hướng người tiêu dùng thay đổi liên tục, dẫn đến hàng hóa bị thiếu hụt hoặc tồn kho quá nhiều
Sản xuất theo đơn đặt hàng (MTO)
Sản xuất theo đơn đặt hàng (MTO – Make to order) là phương thức sản xuất mà doanh nghiệp chỉ sản xuất các mặt hàng khi có đơn đặt hàng từ khách hàng.
- Ưu điểm: Giảm lượng tồn kho dư thừa, các sản phẩm được tối ưu hóa thông số kỹ thuật theo yêu cầu khách hàng.
- Nhược điểm: Chi phí sản xuất cao, thời gian đáp ứng đơn hàng chậm hơn so với sản xuất để lưu kho.
Lắp ráp theo đơn hàng (ATO)
Lắp ráp theo đơn hàng (ATO – Assemble to order) là phương thức sản xuất kết hợp của hai phương pháp trên. Các bán thành phẩm sẽ được chế tác, thi công trước và để trong kho. Khi có đơn đặt hàng, doanh nghiệp sẽ lắp ráp lại thành sản phẩm hoàn chỉnh theo yêu cầu của khách hàng.
- Ưu điểm: Giảm lượng tồn kho hàng chưa bán, không cần đầu tư nhiều vào nguyên vật liệu, kho chứa.
- Nhược điểm: Thời gian sản xuất ra thành phẩm có thể kéo dài, doanh thu có thể mất do nguồn cung không đủ khi nhu cầu khách hàng tăng đột biến.
Thiết kế theo đơn hàng (ETO)
Thiết kế theo đơn hàng (ETO – Engineer to order) là phương thức sản xuất thành phẩm theo yêu cầu riêng của khách hàng.
- Ưu điểm: Thành phẩm có tính đặc thù và giá trị cao.
- Nhược điểm: Mất nhiều thời gian để sản xuất ra thành phẩm theo yêu cầu khách hàng.
Cấu hình theo đơn hàng (CTO)
Cấu hình theo đơn hàng (ATO – Assemble to order) là phương thức sản xuất cho phép khách hàng cấu hình thành phẩm trước khi họ quyết định mua, sau đó cơ sở sản xuất mới bắt đầu tiến hành sản xuất ra thành phẩm hoàn chỉnh.
- Ưu điểm: Tiêu chuẩn thành phẩm được xác định trước, đáp ứng được nhu cầu khách hàng.
- Nhược điểm: Phù hợp với các mặt hàng có giá trị thấp.
Với những kiến thức PMS đã cung cấp ở trên phần nào đã giải đáp cho bạn hiểu phương thức sản xuất là gì? Biết được những phương thức sản xuất đang áp dụng phổ biến ở giai đoạn hiện đại hiện nay. Cảm ơn độc giả đã đọc bài viết!
Phương thức sản xuất là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học và xã hội học, dùng để thể hiện cách thức tổ chức sản xuất của xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Điều này phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên bao gồm 2 yếu tố là lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.










Đăng ký nhận bản tin
Hãy gửi thông tin để không bỏ sót bất kỳ tin tức hoặc chương trình khuyến mãi từ Học Viện PMS